logo
logo
Time 15.07.2017 07:39 | View 389

Đồng Nai là tỉnh phát triển công nghiệp đầu tiên và là địa phương có nhiều lợi thế trong hoạt động thu hút đầu tư tại Việt Nam; Văn phòng luật sư Bảo An giới thiệu đến các nhà đầu tư những thông tin về tiềm năng đầu tư của Đồng Nai để các nhà đầu tư lựa chọn khi có nhu cầu đầu tư dự án và thành lập doanh nghiệp tại Đồng Nai.

1. Điều kiện tự nhiên và xã hội:

a) Vị trí địa lý: Đồng Nai phía đông giáp tỉnh Bình Thuận, phía đông bắc giáp tỉnh Lâm Đồng, phía tây bắc giáp tỉnh Bình Dương và Bình Phước, phía nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, phía tây giáp thành phố Hồ Chí Minh, nằm ở trung tâm vùng kinh tế trọng điểm phía nam và là vùng kinh tế phát triển năng động nhất Việt Nam.

Bản đồ vị trí của Đồng Nai

b) Đơn vị hành chính, diện tích và dân số:

Đồng Nai có 11 đơn vị hành chính; 171 xã, phường, thị trấn; có thành phố Biên Hòa là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa; thị xã Long Khánh và 9 huyện là Long Thành, Nhơn Trạch, Vĩnh Cửu, Trảng Bom, Thống Nhất, Định Quán, Tân Phú, Cẩm Mỹ, Xuân Lộc.

Diện tích tự nhiên của Đồng Nai là 5.907,1 km2, dân số có khoảng 2,56 triệu người, trong đó dân số khu vực thành thị 33,23%, khu vực nông thôn 66,73%.

c) Khí hậu, thổ nhưỡng:

Đồng Nai nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, khí hậu ôn hòa, ít bão lụt và thiên tai, nhiệt độ bình quân hàng năm 25-26oC, gồm 2 mùa mưa và nắng, lượng mưa tương đối cao khoảng 1.500mm - 2.700mm, độ ẩm trung bình 82%.

Đồng Nai có địa hình của vùng đồng bằng và bình nguyên với những núi sỏi rải rác, thấp dần theo hướng bắc nam, chủ yếu là đồng bằng, đồi lượn sóng, núi thấp, địa hình tương đối bằng phẳng, có 82,09% đất có độ dốc <8o, kết cấu đất có độ cứng chịu nén tốt (trên 2kg/cm2), thuận lợi cho việc đầu tư phát triển công nghiệp và xây dựng công trình với chi phí thấp.

Đồng Nai có quỹ đất phong phú và phì nhiêu, gồm 3 nhóm chính:

- Đất hình thành trên đá bazan; bao gồm đất đá bọt, đất đen, đất đỏ có độ phì cao, chiếm 39,1%. Các loại đất này thích hợp cho các cây công nghiệp ngắn và dài ngày như cao su, cà phê, tiêu, …

- Đất hình thành trên phù sa cổ và đá phiến sét như đất xám, nâu xám, loang lổ chiếm 41,9% diện tích tự nhiên, phân bố ở phía nam và đông nam của tỉnh (Vĩnh Cửu, Thống Nhất, Biên Hòa, Long Thành, Nhơn Trạch). Các loại đất này thích hợp cho các loại cây ngắn ngày như đậu, đỗ, … cây ăn trái và cây công nghiệp dài ngày như cây điều, …

- Đất hình thành trên phù sa mới như đất phù sa và đất cát, phân bố chủ yếu ở ven sông Đồng Nai, sông La Ngà. Chất lượng đất tốt, thích hợp với nhiều loại cây trồng như cây lương thực, cây hoa màu, rau quả, …

d) Tài nguyên:

Nguồn nước mặt và nước ngầm rất phong phú đủ cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt trong tỉnh và khu vực. Trong đó:

- Nước mặt: Được cung cấp bởi các sông lớn thuộc hệ thống sông Đồng Nai gồm có dòng chính sông Đồng Nai, sông La Ngà, sông Bé, ngoài ra còn có những sông nhánh lớn như sông Lá Buông, sông Thị Vải, sông Ray, sông Dinh. Tổng lượng nước 25,8 tỉ m3/năm, mùa mưa chiếm từ 85-90%, mùa khô từ 10-15%.

- Nước dưới đất: Tổng trữ lượng khai thác nước dưới đất khoảng 4,9 triệu m3/ngày, trong đó trữ lượng động là 4,1 triệu m3, trữ lượng tĩnh 0,8 triệu m3.

- Khoáng sản: Đồng Nai có nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng, nhất là các loại đá xây dựng, đá ốp lát, sét gạch ngói, thạch anh, cát xây dựng, vật liệu san lấp, sét kaolin, puzlan, laterit, đất phún, … đáp ứng nguồn cung ứng vật liệu xây dựng cho công trình hoặc cơ sở chế biến các sản phẩm liên quan.

e) Nguồn nhân lực:

- Đồng Nai có tháp dân số trẻ, dân số trong độ tuổi lao động 65,54% (khoảng 1,63 triệu lao động), lao động có trình độ văn hóa khá, quen với tác phong công nghiệp, cần cù và cầu tiến. Tỷ lệ lao động có tay nghề chiếm khoảng 53%.

- Năm 2010, tổng số học sinh toàn tỉnh đang theo học tại các bậc giáo dục phổ thông là 523.500 học sinh; số sinh viên đại học, cao đẳng đạt tỷ lệ 220 người/vạn dân.

- Số lượng các trường, đơn vị dạy nghề trên địa bàn tỉnh trên 100 cơ sở, trong đó có 4 trường đại học, 8 trường cao đẳng, 16 trường trung cấp nghề, 73 trung tâm và đơn vị dạy nghề. Nhiều trường mới đang thành lập nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực chất lượng cao cho xã hội và doanh nghiệp.

2. Điều kiện về cơ sở hạ tầng:

a) Cấp điện: Sử dụng nguồn điện của lưới điện quốc gia. Năm 2010, sản lượng điện sử dụng trên địa bàn tỉnh đạt trên 6,1 tỷ kwh. Hệ thống lưới điện cao thế 110/220 KV với các trạm biến áp 2.400 MVA, lưới điện trung thế 15/22 KV với các trạm biến áp 2.500 MVA đã phủ kín 171 phường, xã, thị trấn trong toàn tỉnh, đáp ứng nhu cầu cấp điện cho các nhà đầu tư.

b) Cấp nước: Năm 2010 công suất cấp nước của Đồng Nai đạt 320.000m3/ngày và đến năm 2015 đạt 550.000m3/ngày, cung cấp đủ nước cho dân cư khu đô thị và các dự án công nghiệp trong khu công nghiệp.

c) Thông tin liên lạc: Mạng lưới điện thoại, viễn thông của Đồng Nai đã trực tiếp liên lạc được với các tỉnh trong nước và các nước trên thế giới, kể cả các dịch vụ internet tốc độ cao (ADSL), dịch vụ truyền số liệu (DDN, xDSL, frame relay, leased line...), dịch vụ video conference, … dịch vụ chuyển phát nhanh Fedex, DHL, EMS, CPN, … Năm 2010, bình quân 100 dân đã có trên 121 thuê bao điện thoại, 20,5 thuê bao internet.

d) Giao thông:

Đồng Nai có hệ thống giao thông thuận tiện, có các tuyến đường huyết mạch đi qua như quốc lộ 1A, quốc lộ 20, quốc lộ 51; tuyến đường sắt bắc nam; gần sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, gần cụm cảng Sài Gòn, cụm cảng Thị Vải - Vũng Tàu, … thuận lợi cho việc giao thương trong nước và quốc tế.

Hiện tại chính phủ đã khởi công xây dựng dự án giao thông liên kết vùng như đường cao tốc TP.HCM - Long Thành - Dầu Giây; nâng cấp Quốc lộ 51 Biên Hòa - Vũng Tàu; đang có kế hoạch triển khai đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng quan trọng:

  • Sân bay quốc tế Long Thành 100 triệu khách/năm và 5 triệu tấn hàng/năm;
  • Cảng nước sâu Phước An, trọng tải tàu 60.000 DWT;
  • Cụm cảng biển nhóm V huyện Nhơn Trạch trọng tải tàu 30.000 DWT;
  • Tuyến đường sắt Biên Hòa - Vũng Tàu;
  • Đường cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu;
  • Dự án cầu đường từ quận 9, thành phố Hồ Chí Minh sang Nhơn Trạch, Đồng Nai;
  • Các tuyến đường vành đai 3, 4 nối các địa phương vùng kinh tế trọng điểm.
3. Tình hình phát triển kinh tế:

a) Về tăng trưởng kinh tế:

Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của tỉnh Đồng Nai giai đoạn giai đoạn 2006-2010 là 13,2%; giai đoạn 2011-2015 dự kiến tăng từ 13-14%/năm. GDP bình quân đầu người năm 2010 tương đương 1.630 USD.

Cơ cấu kinh tế tiếp tục dịch chuyển theo hướng công nghiệp hóa; số liệu năm 2010, ngành công nghiệp xây dựng chiếm 57,2%; ngành dịch vụ chiếm 34,1%; ngành nông, lâm, thủy, hải sản chiếm 8,7%.

b) Công nghiệp:

Đồng Nai được thủ tướng chính phủ cho phép qui hoạch phát triển 34 KCN diện tích khoảng 11.380 ha, trong đó năm 2010 đã có 30 khu công nghiệp được cấp phép thành lập diện tích 9.573 ha, cơ sở hạ tầng các KCN được xây dựng đồng bộ, trên 60% diện tích đất đã có nhà máy và đang sẵn sàng đón nhận các nhà đầu tư mới. Ngoài ra, chính phủ đã chấp thuận về chủ trương cho Đồng Nai thành lập thêm khu công nghiệp công nghệ cao tại huyện Long Thành (500 ha), khu liên hợp công nông nghiệp tại huyện Xuân Lộc và huyện Thống Nhất (2.186 ha), khu công nghệ cao chuyên ngành công nghệ sinh học tại huyện Cẩm Mỹ (209 ha), ... mở ra nhiều cơ hội cho các nhà đầu tư vào Đồng Nai.

Bên cạnh các khu công nghiệp, năm 2010 Đồng Nai đã qui hoạch và phát triển được 45 cụm công nghiệp và làng nghề với tổng diện tích khoảng 2.080 ha, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa đầu tư và phát triển.

c) Nông - Lâm - Ngư nghiệp:

Đất canh tác nông nghiệp phần lớn là đất đỏ bazal thích hợp để phát triển các loại cây công nghiệp và cây ăn quả. Năm 2010, diện tích đất nông nghiệp trồng cây hàng năm là 185.440 ha trong đó đất trồng lúa là 70.700 ha, bắp là 52.800 ha, khoai mỳ là 17.800 ha; đất trồng cây lâu năm là 162.390 ha trong đó các cây trồng chủ yếu như cao su là 39.250 ha, cà phê là 17.710 ha, điều là 51.050 ha, tiêu là 7.200 ha, ...; bưởi Tân Triều của Đồng Nai là đặc sản nổi tiếng đã đăng ký thương hiệu.

Đồng Nai đang là một trong những địa phương dẫn đầu cả nước về sản xuất thức ăn gia súc cho các trang trại chăn nuôi qui mô công nghiệp, là nguồn nguyên liệu quan trọng cho công nghiệp chế biến. Năm 2010, Đồng Nai có đàn gia súc trên 164.000 con, đàn lợn khoảng 1,22 triệu con, đàn gia cầm khoảng 8,7 triệu con.

Đất nuôi trồng thủy sản, diện tích khoảng 33.330 ha, chủ yếu là vùng hồ Trị An và vùng bán ngập thuộc hạ lưu sông Đồng Nai.

Rừng Đồng Nai có đặc trưng cơ bản của rừng nhiệt đới, có tài nguyên động thực vật phong phú đa dạng, tiêu biểu là vườn quốc gia Nam Cát Tiên. Tổng diện tích đất rừng hiện có 155.830 ha với độ che phủ rừng khoảng 29,8%.

Công nhân Đồng Nai thu hoạch mủ cao su

d) Thương mại:

Đồng Nai xuất khẩu chủ yếu các loại sản phẩm nông nghiệp như mủ cao su sơ chế, cà phê, lạc nhân, hạt điều nhân, bắp, nông sản, thực phẩm chế biến, một số sản phẩm công nghiệp như giày dép, may mặc, sản phẩm cơ khí, điện tử, sản phẩm gỗ chế biến, ... Nhập khẩu chủ yếu là loại vật tư nguyên liệu như phân bón, xi măng, sắt thép xây dựng, phụ tùng thiết bị, nguyên vật liệu sản xuất.

Năm 2010, Đồng Nai đạt kim ngạch xuất khẩu trên 7 tỷ USD, nhập khẩu đạt trên 7,9 tỷ USD.

e) Dịch vụ:

Đồng Nai đang phát triển nhanh các dự án nhà ở, khách sạn, bệnh viện, trường học; các dịch vụ tài chính ngân hàng, vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng, ... đáp ứng nhu cầu đa dạng của các nhà đầu tư.

Sân golt Long Thành

g) Du lịch:

Đồng Nai là vùng đất có nền văn minh cổ xưa với nhiều di tích văn hóa lịch sử có giá trị, điều kiện tự nhiên thuận lợi cho nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái, du lịch vườn, du lịch lễ hội văn hóa, ... Một số vùng có tiềm năng phát triển ngành du lịch như vườn quốc gia Cát Tiên, sông Đồng Nai, khu văn hóa lịch sử chiến khu D, khu du lịch Bửu Long, cù lao Phố, làng bưởi Tân Triều, Thác Mai - Hồ nước nóng; di chỉ khảo cổ như mộ cổ Hàng Gòn, đàn đá Bình Đa; nhiều khu, điểm du lịch khác theo qui hoạch tại thành phố Biên Hòa và các huyện Nhơn Trạch, Trảng Bom, Vĩnh Cửu, Tân Phú, Định Quán, …

Bản đồ du lịch Đồng Nai

h) Phát triển doanh nghiệp:

Năm 2010, địa bàn tỉnh Đồng Nai có hơn 12.800 doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đang hoạt động sản xuất kinh doanh; chưa kể hợp tác xã, hộ kinh tế gia đình và các trang trại.

Đối với doanh nghiệp có vốn nhà nước, quá trình sắp xếp đổi mới năm 2010 còn 56 doanh nghiệp, hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con, kinh doanh đa ngành, càng ngày càng lớn mạnh về vốn, thị trường, chiến lược phát triển sản xuất kinh doanh, trình độ quản lý điều hành.

Đối với doanh nghiệp dân doanh, tổng số doanh nghiệp đăng ký kinh doanh có trên 11.550 doanh nghiệp với tổng số vốn đăng ký trên 86.500 tỷ đồng là khu vực phát triển nhanh về số lượng, đa dạng về ngành nghề, ngày càng có vai trò quan trọng trong việc phát huy nội lực và hội nhập.

Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, có trên 980 doanh nghiệp thuộc 32 quốc gia và vùng lãnh thổ với tổng vốn đầu tư trên 18,5 tỷ USD. Đây là loại hình phát triển nhanh về qui mô và đạt hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh, thể hiện sự thành công trong việc thu hút và cải thiện môi trường đầu tư tại Đồng Nai. Các nước và vùng lãnh thổ dẫn đầu về đầu tư tại Đồng Nai gồm có Đài Loan, Hàn quốc, Nhật Bản, các nước ASEAN, EU, Mỹ, ... Hầu hết các nhà đầu tư nước ngoài triển khai thực hiện dự án nghiêm túc, đạt được kết quả tốt và có kế hoạch đầu tư mở rộng dự án, được chính phủ Việt Nam và tỉnh Đồng Nai đánh giá cao.

i) Thu hút đầu tư:

Trong 5 năm (2006 - 2010) tỉnh Đồng Nai thu hút đầu tư nước ngoài 11,4 tỷ USD, lũy kế đến cuối năm 2010 thu hút đầu tư nước ngoài 18,6 tỷ USD là một trong những tỉnh thu hút đầu tư nước ngoài thuộc nhóm cao trong cả nước, nhiều dự án đã hoàn thành đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Bên cạnh đó, Đồng Nai cũng là điểm đến hấp dẫn của các doanh nghiệp trong nước, chỉ tính từ năm 2007 đến nay (từ thời điểm nghị định số 108/2006/NĐ-CP quy định hướng dẫn thực hiện một số điều của luật đầu tư có hiệu lực) Đồng Nai đã thu hút trên 255 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư trên 138.730 tỷ đồng, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

Pháp lý | Đang xem: 63
© 2012, Bao An Law Firm. All Rights Reserved.